Câu 8: Trình bầy nội dung quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất?

– Khái niệm lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất (1,5đ)

Lực lượng sản xuất là toàn bộ những năng lực sản xuất của xã hội ở các thời kì nhất định. Về mặt cấu trúc, lực lượng sản xuất xã hội bao gồm hệ thống những tư liệu sản xuất mà người ta dùng cho sản xuất, trong đó quan trọng nhất là công cụ lao động.

lượng sản xuất bao gồm: Người lao động và tư liệu sản xuất.

– Người lao động là người tham gia vào quá trình lao động.

Người lao động có hai yếu tố cơ bản là trí tuệ và sức lao động, nhờ có trí tuệ và sức lao động mà con người đã tìm ra tư liệu sản xuất của chính mình.

Trong mối quan hệ giữa người lao động với tư liệu sản xuất thì người lao động đóng vai trò quyết định. Người lao động quyết định tư liệu sản xuất của chính mình, chính tư duy duy của người lao động đã cải tiến tư liệu sản xuất của mình. Nhờ có tư duy của người lao động mà tư liệu sản xuất của con người ngày càng đa dạng và phong phú.

Tư liệu sản xuất bao gồm: – công cụ lao động;

–         Đối tượng lao động.

–         Phương tiện lao đông.

Trong mối quan hệ giữa 3 yếu tố tư liệu sản xuất,  thì công cụ lao động đóng vai trò quyết định, công cụ lao động là lực lượng động nhất của lực lượng sản xuất.

– Công cụ lao động quyết định khả năng chinh phục tự nhiên của con người, công cụ lao động của con người càng phát triển con người càng thoát khỏi giới tự nhiên, càng không phải lệ thuộc vào giới tự nhiên.

– Công cụ lao động quyết định năng suất lao động mà năng suất lao động lại quyết định sự sống còn của một chế độ xã hội nhất định. Sự thay thế từ hình thái kinh tế xã hội sang hình thái kinh tế xã hội khác, xét cho đến cùng là sự thay thế của công cụ lao động, vì vậy Các Mác viết ” Cái cối xay chạy bằng tay thì cho ra đời lãnh chúa phong kiến, cái cối xay chạy bằng hơi nước thì cho ra đời xã hội tư bản”.

Ngày nay khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, một phát minh khoa học được ứng dụng rất nhanh vào thực tiễn, khi ứng dụng và thực tiễn nó tạo ra lượng của cải vật chất lớn. Ngày nay các công nghệ khoa học phát triển rất mạnh đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học là những ngành mũi nhọn thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.

* Quan hệ sản xuất là nhưng mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội).

Quan hệ sản xuất gồm ba mặt:

– Quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất;

– Quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất;

– Quan hệ phân phối sản phẩm sản xuất ra.

Trong 3 mặt trên thì quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất là quan trọng nhất, nó đóng vai trò quyết định và chi phối quan hệ tổ chức quản lí, phân công lao động và quan hệ phân phối. Bởi vì nắm đựợc TLSX nghĩa là nắm được CCLĐ, ĐTLĐ, PTLĐ. Người nắm được yếu tố này thì có quyền phân công lao động,  quản lý lao động và phân phối sản phẩm lao động làm ra.

Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, có 2 hình thức sở hữu

+ Sở hữu tư nhân;

+ Sơ hữu tập thể.

Sở hữu tư nhân là tư liệu sản xuất tập trung trong tay một người hoặc một số ít người, nó là phạm trù lịch sử, nó được hình thành từ khi chế độ chiếm hữu nô lệ ra đời. Sở hữu tư nhân là nguồn gốc của sự phân hóa giai cấp, giữa giai cấp thống trị và những người bị trị.

Sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất  ra đời từ khi có xã hội nguyên thủy, hình thức cao nhất của nó là xã hội cộng sản chủ nghĩa.

–  Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất (2đ)

Quy luật sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và trình độ của lực lượng sản xuất lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt ,hai phương thức cơ bản của quá trình sản xuất ra của cải vật chất ;chúng không tồn tại độc lập tách rời nhau mà có mối liện hệ tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng tạo thanh quy luật phù hợp giữa quan hệ sản xuất và trình độ lực lượng sản xuất.

* Lực lượng sản xuất, quyết định quan hệ sản xuất

 Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ giữa nội dung và hình thức.

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất, trong đó lực lượng sản xuất là nội dung vật chất của quá trình sản xuất, còn quan hệ sản xuất là hình thức kinh tế của quá trình đó. Trong đời sống hiện thực không có một lực lượng sản xuất nào lại có thể diễn ra bên ngoài những hình thức kinh tế nhất định. Ngược lại cung không có một quan hệ sản xuất nào mà không có nội dung vật chất của nó.

Trong mọi quá trình của lực lượng sản xuất, cũng tất yếu đòi hỏi phải có quan hệ sản xuất phù hợp, quan hệ sản xuất lỗi thời hoặc đi trước lựuc lượng sản xuất đề kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.

– Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ thống  nhất có bao hàm khả năng chuyển hóa thành các mặt đối lập và phát sinh mâu thuẫn.

Quy luật cơ bản nhất của quá trình vận động và phát triển xã hội. Khuynh hướng chung của sản xuất vật chất là không ngừng phát triển; Trong mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và Quan hệ sản xuất thì quan hệ sản xuất là cái tương đối ổn định, còn LLSX là cái thường xuayên biến đổi. Sự phát triển của lực lượng sản xuất làm cho quan hệ sản xuấtờt chỗ phù hợpổtở thành không phù hợp. Khi đó quan hệ sản xuất trở thành “xiềng xích” của LLSX, kìm hãm LLSX phát triển yêu cầu khách quan sự phát triển của lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến sự thay đổi của quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất, lúc này để thúc đẩy lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển. Thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng qua hệ sản xuất mới có nghĩa là sẽ có một phương thức sản xuất khác ra đời thay thế phương thức sản xuất cũ.

* Sự tác động trở lại của QHSX

Lực lượng sản xuất thay đổi và quyết định đến quan hệ sản xuất nhưng bản thân quan hệ sản xuất cũng có sự độc lập tương đối của nó và tác động trở lại qua hệ sản xuất.

Quan hệ sản xuất mới quy định mục đích sản xuất ,tác động đến thái độ của người lao động trong qua trình lao động ,đến tổ chức phân công lao động xã hội. Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Ngược lại nếu quan hệ sản xuất lạc hậu hoặc “tiên tiến ” hơn trình độ lực lượng sản xuất một cách giả tạo thì sẽ kìm hãm, hạn chế sự phát triển của lực lượng sản xuất.

 Ý nghĩa của phương pháp luận (1,5đ)

– Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất: Vì vậy trong hoạt động thực tiễn phải đẩy mạnh phát triển lực lượng sản xuất. Trong mối quan hệ giữa hai mặt của lực lượng sản xuất giữa người lao động  và tư liệu sản xuất thì người lao động đóng vai trò quyết định vì vậy muốn phát triển kinh tế thì việc đầu tiên phải ưu tên phát triển con người, lấy con người làm trung tâm. Chỉ có phát triển con người thì đất nước mới giàu mạnh. Muốn phát triển con người phải ưu tên phát triển giáo dục và y tế.

Cùng với việc phát triển con người là việc phát triển tư liệu sản xuất mà đặc biệt ưu tiên phát triển công cụ lao động, muốn phát triển được công cụ lao động thì phải đẩy mạnh phát triển khoa học công nghệ.  Phải tìm tòi cải tiến công nghệ mới chỉ có nâng cao phát triển cải tiến công nghệ thì hàng hóa của chúng ta mới đủ sức cạnh tranh trên trường quốc tế.

Trong quá trình nhập khẩu công nghệ phải nhập khẩu các công nghệ hiện đại.

Nâng cấp các viện khoa học, phải có chính sách ưu tiên trong lĩnh vực phát triển khoa học công nghệ, phải cóa những giải thưởng xứng đáng cho các nhà khoa học, phải khẩn trương đưa các phát minh khoa học ứng dụng vào thực tiễn. Phải có chính sách cụ thể để phát triển nền kinh tế tri thứ- Phải đạt được trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt công nghệ thông tin và công nghệ sinh học.

Phải tìm ra những nguồn nguyên liệu mới thay thế những nguồn nguyên liệu đang bị cạn kiệt.

– Quan hệ sản xuất tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất bằng sự phù hợp.

Đối với đất nước của chúng ta, đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường hợp. Ngược lại nếu quan hệ sản xuất lạc hậu hoặc “tiên tiến ” hơn trình độ lực lượng sản xuất một cách giả tạo thì sẽ kìm hãm, hạn chế sự phát triển của lực lượng sản xuất. Vì vậy chung ta chuyển đổi nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, trong các thành phần kinh tế ấy có tư bản tư nhân và tư bản nhà nước.

Trong giai đoạn hiện nay chúng ta chỉ có thúc đẩy các thành phần kinh tế phát triển chứ không được đốt cháy giai đoạn.

Phải chú ý thật kỹ từng khâu đoạn trong tổ chức, quản lý, phân công lao động cần phải thực hiện có quy trình, đúng luật hành chính, bởi vì nó tác động trực tiếp đến thái độ của người lao động.

Phải trả lương cho người lao động phù hợp với điều kiện sống và sinh hoạt, chỉ có như vậy người lao động mới cống hiến hết khả năng cho công việc

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: